Trong bảng vàng chiến công oanh liệt của quê hương có phần đóng góp của cha và bao người, nhưng thấp thoáng sau ánh hào quang đó, là hình bóng của mẹ cùng những người vợ, người mẹ đảm đang khác, thầm lặng hy sinh nơi hậu phương để chồng con yên tâm chiến đấu, phục vụ chiến đấu vì tự do độc lập, vì sự trường tồn của đất nước.
Ảnh gia đình tôi chụp năm 1971
Nghe đọc:
Hôm rồi, quê nhà tổ chức đại lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước do Chủ tịch nước phong tặng.
Đó quả là một ngày hội lớn để mỗi người dân Xuân Lâm dù đang ở quê nhà hay công tác, học tập, sinh sống trên khắp mọi miền đất nước bày tỏ niềm vui và tự hào đối với quê hương yêu dấu. Xin bày tỏ niềm kính phục, lòng ngưỡng mộ và sự tri ân đối với các thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu, đã đổ bao mồ hôi nước mắt để có được danh hiệu cao quý ngày hôm nay.
Đầu buổi sáng hôm tổ chức lễ, tôi gọi điện về nhà gặp cha, hỏi xem ông có đi dự không. Giọng ông sang sảng: - Có chơ! - Rứa ai chở cha đi? - Thằng Nhung (em trai tôi). - Có ai đi cùng nữa không ạ? Ông bảo, cả nhà cùng đi. Cả nhà đây là ông cụ và vợ chồng chú em.
Tôi chúc mừng cha – một lão thành cách mạng, 91 năm tuổi đời, gần 60 năm tuổi Đảng – người đã góp phần không nhỏ vào thành tích chung của xã nhà trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
Thế hệ những cán bộ xã nòng cốt thời liệt oanh ấy, bây giờ còn được mấy ai? Cha tôi năm nay cũng đã bước qua tuổi chín mươi. Chẳng hay các cụ đi trước, an nhiên miền cực lạc có biết được ngày vui hôm nay của quê hương không? Tôi nghĩ, nơi suối vàng chắc các cụ cũng ngậm cười bởi máu xương, công lao các cụ một thời hy sinh, chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước không uổng, đã được nhà nước và lịch sử ghi nhận, con cháu đời đời tri ân.
*
Tôi không biết cha mình tham gia hoạt động từ lúc nào bởi chẳng bao giờ thấy ông khoe, mẹ tôi cũng chẳng bao giờ nói (sau này lớn lên nhờ mấy lần khai lý lịch tôi mới hay). Chỉ biết là hồi ấy ông cứ vắng nhà liên miên. Lớn lên một chút, tôi cảm nhận được hình như ông đang giữ chức vụ gì đó trong hợp tác xã hay ủy ban.
Rồi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày một diễn ra ác liệt ở miền Bắc. Cha tôi bị cuốn vào công việc chung của địa phương thời chiến. Việc nhà, việc đồng áng, việc chăm sóc mẹ chồng mù lòa và nuôi dạy đàn con, một mình mẹ tôi lo liệu. Anh em chúng tôi chỉ giúp được mỗi việc chăn bò, cắt cỏ. Ấy vậy mà còn tỏ ra nhác nhớn, luôn lấy cớ bận học để thoái thác công việc. Sau này lớn lên, ý thức được trách nhiệm làm con, làm anh của mình thì đã muộn. Tôi vào lập nghiệp tít tận Tây Nguyên, đường sá xa xôi, thời bao cấp tàu xe khó khăn, thảng hoặc dăm ba năm mới về thăm quê được một lần.
Năm 1968 là thời điểm chiến tranh phá hoại ác liệt nhất. Cha tôi lúc đó là chủ tịch xã Nam Lâm (Xuân Lâm ngày nay là tên gọi sau khi hợp nhất ba xã Nam Lâm, Nam Quang, Nam Mỹ vào ngày 10/5/1969). Tôi còn nhớ, nhà tôi lúc bấy giờ treo trang trọng nơi gian giữa bức trướng nhỏ bằng vải đỏ viết chữ màu vàng do Ủy ban Nhân dân huyện Nam Đàn tặng xã Nam Lâm, đơn vị xuất sắc nhất trong phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước năm 1968. Tiếc thay, kỷ vật vô giá đó nay không còn nữa.
Mùa hè 1972, cũng là thời điểm cực kỳ ác liệt của chiến tranh phá hoại lần thứ hai của giặc Mỹ. Huyện Nam Đàn thành lập một tiểu đoàn xe đạp thồ chở hàng hóa chi viện cho tiền tuyến do bác Nguyễn San – người Nam Kim, sau này là trưởng công an huyện - làm tiểu đoàn trưởng. Cha tôi là đại đội trưởng xe đạp thồ của xã. Địa bàn hoạt động của đơn vị trải dài 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, hồi ấy là vùng tuyến lửa của Quân khu Bốn. Mấy lần đoàn xe thồ bị máy bay địch đánh tọa độ, nhiều người bị thương, có người hy sinh. Đó là những tháng ngày cả nhà tôi thấp thỏm âu lo. Chiến tranh ác liệt quá. Những năm tháng ấy, không nơi nào trên mảnh đất hình chữ S là không đối mặt với mất mát, hy sinh.
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, làng tôi nhiều lần bị bom đạn giặc tàn phá. Có những trận tôi không được chứng kiến vì mình còn nhỏ tuổi nhưng cũng có những lần tận mắt nhìn thấy cảnh tang thương. Đó là trận bom lúc gần sáng, tan hoang xóm dưới nơi nhà cụ Đạo, cạnh đó có phòng học lớp ba của tôi; trận bom xóm trên gần cồn Thành, lửa cháy ngút trời; trận bom bi buổi tối, sáng ra thấy cửa hầm trú ẩn lỗ chỗ mấy lỗ bi. Thật hú vía, may mà lúc đó cả nhà tôi kịp chạy vào ngách trong; trận bom lúc tảng sáng mùa hè năm 1972, đánh vào trận địa pháo 14 ly 5 của bộ đội ta đặt bên bãi cồn, tàn phá xóm Vụng,… Một trong những khẩu pháo bị bom Mỹ phá hủy sau trận oanh tạc đó được kéo về để bên vườn nhà ông chú Quyền Quý, phía sau nhà tôi, trở thành đồ chơi của mấy đứa trẻ trong xóm vì vẫn còn quay nòng lên xuống được. Tôi còn nhớ trong số người bị thương hôm đó có Hòe - em trai Quế Xuân, bạn cùng lứa với tôi - bị bom cắt cụt chân, được cứu thương đưa về hầm chữ A của xã phía sau nhà tôi, nhưng không qua khỏi vì mất quá nhiều máu.
Đó là những năm tháng ác liệt, đầy gian khổ, chết chóc. Thế hệ những người như cha tôi cùng bao người dân khác lúc bấy giờ đã cống hiến hết mình, sẵn sàng xả thân vì đất nước. Cái thời đẹp nhất ấy, vô tư trong sáng ấy một đi không trở lại.
Có một chi tiết trong cuộc đời cha mà mãi gần đây mới được ông “tiết lộ”. Ấy là hồi Cải cách ruộng đất, cha tôi bị một người trong làng vu cho liên quan đến Quốc dân đảng. Sau một tuần xác minh, không tìm được chứng cứ buộc tội, “đội” (những người có quyền sinh, quyền sát trong Cải cách ruộng đất) phải minh oan, cha tôi lại được mời ra làm việc tiếp.
Liệu có may mắn nào chăng bởi nếu lúc ấy mấy ông “đội” mà cứ đằng đằng sát khí, chẳng thèm tra cứu cho ra nhẽ thì có lẽ, không chỉ đời cha tôi cơ cực mà con cái cụ cũng bị liên lụy, chẳng bao giờ ngẩng mặt lên nổi.
*
Thời của cha và các bậc tiền bối, làm việc nước chí công vô tư, có khi đúng như câu tục ngữ “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Sau mấy chục năm lăn lộn với phong trào địa phương, đối mặt với bao nguy nan, chết chóc, đến khi nghỉ hưu, lương tháng của cụ qua mấy lần sửa đổi cũng chỉ hơn hai triệu một xíu.
Ngôi nhà nơi bảy anh em tôi sinh ra và lớn lên, trải qua nhiều lần cơi nới. Trên khu đất chật hẹp của ông bà để lại, hồi ấy nằm sát bìa đồng, chen chúc nhà của ba anh em: hai ông bác và cha tôi.
Nhà của cha tôi, đúng chuẩn mô típ nhà nông thôn một thuở: nhà chính một gian hai chái, vách che phên nứa, mái lợp tranh mía; nhà ngang có chái bếp cạnh chuồng bò, chuồng lợn. Có một kỷ niệm khó quên tuy chẳng nhớ năm nào, có lẽ là lúc tôi ba bốn tuổi.
Đêm ấy, tôi ngồi xem cha chong đèn dầu đan rổ. Hồi chiều mưa to, những trận mưa rào đầu mùa hạ. Bỗng nghe có tiếng gì như là ai đang quẫy nước trong vườn mía sau nhà. Cha tôi vội vàng giục mẹ cầm đèn chạy ra xem. Lát sau vào nhà, trên tay ông một con chép rõ to đang quẫy mạnh. Thì ra sau trận mưa đầu mùa, cá dưới ao theo con nước tràn lên vườn tìm chỗ đẻ trứng.
Khi tôi lên sáu, lên bảy, cha tôi lại làm nhà. Nói làm nhà cho oai chứ thực ra là sửa sang ngôi nhà cũ để lợp ngói, xây tường bao quanh. Kể ra lúc ấy được như thế cũng là oách lắm rồi. Có chuyện này nói ra có lẽ mọi người không tin. Một phần gạch làm nhà lấy từ cái nhà tiêu (nhà vệ sinh) của địa chủ bị tịch thu chia cho nông dân, cha tôi mua lại. Cái nhà tiêu ấy ở bờ phía bên kia ao nhà tôi, bỏ hoang đã lâu, nom rất đồ sộ trong con mắt một đứa trẻ như tôi. Cuộc tháo dỡ cũng rất kỳ công để không làm vỡ một viên gạch, viên ngói. Cha tôi kết một bè chuối, mẹ ở trên chuyền gạch ngói xuống. Cha đẩy bè qua ao, cọ rửa từng viên trước khi xếp lên vườn nhà. Thời ấy, đến ván hòm sau khi cải táng người chết, người ta còn tận dụng để làm cầu ao, ngăn chuồng lợn nữa là. Mà không làm thế, biết lấy đâu ra gỗ, ra gạch ngói ở cái thời khó nhọc của cả làng nước chứ không riêng gì gia đình tôi?
Rồi cũng dễ đến hơn chục năm sau, cha tôi lại cơi nới nhà tiếp. Số là ngôi nhà cũ nhỏ bé đến nỗi, cái cửa hông lên xuống thấp tè, khi tôi bước vào học cấp ba, người lênh khênh như que sậy, mỗi ngày cụng trán vào đố cửa không biết bao nhiêu lần.
Nhà mới cao hơn một chút, đỡ đụng cửa nhưng vẫn là kiểu nhà hạ chạn thấp bé. Rồi lại kê kích chân cột, nâng cấp vài lần nữa nhưng vẫn giữ mô hình muôn thuở của cha ông, nhà trên hướng chính, nhà dưới quay ngang tạo hình chữ L.
Tài sản vô giá của cha mẹ là bảy giọt máu các cụ sinh ra, nuôi dưỡng, trưởng thành. Những năm khó khăn gian khổ, cha lo gánh vác việc nước, mình mẹ chu toàn việc nhà. Trong bảng vàng chiến công oanh liệt của quê hương có phần đóng góp của cha và bao người, nhưng thấp thoáng sau ánh hào quang đó, là hình bóng của mẹ cùng những người vợ, người mẹ đảm đang khác, thầm lặng hy sinh nơi hậu phương để chồng con yên tâm chiến đấu, phục vụ chiến đấu vì tự do độc lập, vì sự trường tồn của đất nước.
Bây giờ cha tôi đã ngoài chín mươi. May mà trời thương, tiên tổ phù hộ, cụ vẫn còn khỏe – cái khỏe của tuổi già - để hôm nay, may mắn hơn mẹ tôi, hơn nhiều bạn chiến đấu khác, được chứng kiến cảnh quê hương đổi mới, và vui nhất là hôm nay, cùng bà con quê nhà đón nhận danh hiệu anh hùng cao quý.
Ngày quê hương đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trangn Nhân dân, 19-12-2020 Nguyễn Duy Xuân