NGHE & ĐỌC: Những dấu mốc lịch sử của 80 năm kiên cường đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc
admin100
2025-11-17T06:00:02-05:00
2025-11-17T06:00:02-05:00
http://nguyenduyxuan.net/kho-tri-thuc/nhung-dau-moc-lich-su-cua-80-nam-kien-cuong-dau-tranh-giai-phong-dan-toc-bao-ve-va-xay-dung-to-quoc-12765.html
http://nguyenduyxuan.net/uploads/news/2017_03/2-9.jpg
Nguyễn Duy Xuân
http://nguyenduyxuan.net/uploads/logotrong1.png
Chủ nhật - 16/11/2025 17:01
Trải qua 80 năm với biết bao thử thách, hy sinh và vươn lên, Việt Nam từ thân phận thuộc địa, nô lệ, trở thành quốc gia độc lập, thống nhất và vươn lên mạnh mẽ...
>> Nghe giọng đọc Ngọc Huyền:
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một thế kỷ của nhân dân ta kể từ khi thực dân Pháp nổ phát súng xâm lược Việt Nam vào ngày 01/9/1858.
Cách mạng tháng Tám thành công dẫn đến việc ngày mồng 2 tháng Chín năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đó đến nay, dân tộc Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài 80 năm đấu tranh kiên cường bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng và phát triển đất nước.
Dưới đây là những dấu mốc lịch sử tiêu biểu, gắn với hành trình 80 năm (1945 - 2025) hào hùng của dân tộc Việt Nam - một dân tộc kiên cường, giàu lòng yêu nước và khát vọng vươn lên.
I. Từ tháng 9/1945 - 19/12/1946: Đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ nền độc lập non trẻ
Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Ngay đêm hôm đó, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ mệnh lệnh khởi nghĩa.
Chiều 16/8/1945, Đại hội đại biểu quốc dân họp tại đình Tân Trào, hiệu triệu toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đại hội đã quyết định thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
Cách mạng Tháng Tám diễn ra từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945 và thành công tốt đẹp. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nhà nước cách mạng vừa mới ra đời đã phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài - vận nước ngàn cân treo sợi tóc - nhưng vẫn vững vàng củng cố chính quyền cách mạng. Ngày 06/1/1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên. Ngày 09/11, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ba tuần sau ngày độc lập, đêm 23/9/1945, được sự giúp đỡ trực tiếp của quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
Ngày 25/11/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, chỉ rõ: Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 06/3/1946, Hiệp định Sơ bộ được ký kết giữa một bên là Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và một bên là Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp.
Ngày 14/9/1946, trên đất Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với đại diện Chính phủ Pháp một bản Tạm ước về quan hệ Việt Nam - Pháp.
Hiệp định Sơ bộ (06/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) là những nước cờ ngoại giao xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với chủ trương tìm mọi cách hòa hoãn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Tuy nhiên, thực dân Pháp vẫn không chịu từ bỏ dã tâm cướp nước ta lần nữa.
II. Kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946 - 20/7/1954)
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”.
Cuối năm 1946, Trung ương Đảng và Chính phủ rút về Việt Bắc, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.
Thu Đông 1947, ta tiến hành chiến dịch Việt Bắc, chiến dịch phản công đầu tiên có ý nghĩa mang tầm chiến lược, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn, đầy tham vọng của thực dân Pháp lên căn cứ Việt Bắc, làm phá sản kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, để sớm kết thúc chiến tranh của chúng.
Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950, chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của ta vào hệ thống phòng ngự của quân Pháp trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn, mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến, phá thế bao vây, kết nối với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
Chiến dịch Tây Bắc 1953 là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế, tạo ra thế và lực mới, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến lên giành thắng lợi quyết định.
Chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954 đánh bại kế hoạch Navarre, phá tan âm mưu của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ muốn đảo ngược tình thế chiến tranh; làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ba nước Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) - đỉnh cao của Chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954 - “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, buộc Pháp ký Hiệp định Genève, công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam (20/7/1954).
Ngày 10/10/1954, ta tiếp quản thủ đô Hà Nội, tiếp đến là thành phố Hải Phòng (ngày 13/5/1955), miền Bắc hoàn toàn giải phóng.
III. Giai đoạn 1954 - 1975: Chống Mỹ, cứu nước - thống nhất đất nước
Miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN, đánh thắng chiến tranh phá hoại, chi viện sức người sức của cho miền Nam.
Công cuộc cải cách ruộng đất diễn ra từ năm 1953 đến 1957. Sau cải cách ruộng đất, bộ mặt nông thôn miền Bắc thay đổi căn bản: nông dân nghèo được chia ruộng, xóa bỏ tàn dư phong kiến.
Tháng 7/1959, Hội nghị Trung ương 15 chính thức thông qua Nghị quyết, xác định cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo có hai nhiệm vụ chiến lược song song tiến hành là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Từ 1964 - 1972, miền Bắc đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ: lần thứ nhất (từ 05/8/1964 đến 31/10/1968); lần thứ hai (từ ngày 06/4 đến 29/12/1972), mà đỉnh cao là trận “Điện Biên Phủ” trên không (từ 18/12 đến 30/12/1972), bắn rơi 735 máy bay, trong đó có 61 máy bay chiến lược B.52 và 10 máy bay phản lực F.111, bắt sống hơn 1.000 giặc lái, bắn cháy, bắn chìm 125 tàu chiến, tàu biệt kích.
Miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, nỗ lực hết sức mình chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt.
Đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Ở miền Nam, Mỹ - Diệm chà đạp lên Hiệp định Genève, thi hành chính sách “tố Cộng, diệt Cộng”. Cách mạng miền Nam trong thế bị địch kìm kẹp, gặp muôn vàn khó khăn.
Phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960), khởi phát từ Bến Tre, sau đó nhanh chóng bùng nổ và lan rộng ra toàn miền Nam, phá thế kìm kẹp, mở ra cao trào đấu tranh vũ trang, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (1960).
Ngày 08/3/1965, Mỹ chính thức đem quân viễn chinh vào tham chiến ở miền Nam, đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán tại Paris.
Chiến dịch Xuân - Hè, “Mùa hè đỏ lửa” Quảng Trị 1972, chiến dịch lớn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, diễn ra trong khuôn khổ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân - Hè 1972 - một trận chiến bi hùng của quân và dân ta, trở thành khúc tráng ca bất tử trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất non sông.
Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), buộc Mỹ phải rút quân về nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau Chiến dịch Tây Nguyên (từ 05/3 đến 3/4/1975), Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (từ 05/3 đến 29/3/1975) - những đòn dánh chiến lược khiến chính quyền Sài Gòn suy sụp nhanh chóng - ta giải phóng hàng loạt các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, và đi đến trận thắng cuối cùng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (từ 26/4 đến 30/4/1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ròng rã suốt 21 năm.
IV. Giai đoạn 1975 - 1986: Hàn gắn vết thương chiến tranh, bảo vệ biên cương và vượt qua khủng hoảng
1975 - 1976: Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
1978 - 1989: Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững.
Cũng trong thời gian này, đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn thời hậu chiến: cấm vận, bao vây, khủng hoảng kinh tế kéo dài, đời sống người dân hết sức khó khăn.
V. Giai đoạn 1986 - 2000: Đổi mới và hội nhập
Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra công cuộc Đổi mới toàn diện, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Việt Nam từng bước hội nhập quốc tế, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), Mỹ (1995); trở thành thành viên ASEAN (1995).
Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng phát triển mới.
VI. Giai đoạn 2000 - 2025: Phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng
Đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển mạnh. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực, chủ động tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tiêu chuẩn cao như CPTPP, EVFTA, RCEP…; vừa mở rộng thị trường xuất khẩu, vừa tạo nền tảng cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng; vươn lên thành quốc gia có thu nhập trung bình.
Gia nhập WTO (2007), ký kết các FTA quan trọng (CPTPP, EVFTA...), khẳng định vai trò tích cực trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thành công trong phòng chống đại dịch COVID-19 (2020 - 2022), được quốc tế đánh giá cao, thể hiện khả năng quản trị khủng hoảng và đoàn kết dân tộc.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 23 nước (trong đó 13 nước là đối tác chiến lược toàn diện). Vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao.
Đại hội XIII của Đảng (2021) định hướng phát triển đến năm 2045 – tầm nhìn 100 năm – đưa Việt Nam thành nước phát triển, thu nhập cao.
VII. Năm 2025: Tròn 80 năm thành lập nước - một cột mốc lịch sử khẳng định ý chí độc lập - tự chủ - tự cường của dân tộc.
Trải qua 80 năm với biết bao thử thách, hy sinh và vươn lên, Việt Nam từ thân phận thuộc địa, nô lệ, trở thành quốc gia độc lập, thống nhất và vươn lên mạnh mẽ: xây dựng được nền tảng kinh tế vững chắc, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; giữ vững chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế đất nước và khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm 2025 không chỉ là dịp kỷ niệm 80 năm thành lập nước, mà còn là lời nhắc nhở và hiệu triệu: Hãy tiếp bước cha ông, cùng nhau đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của khát vọng hùng cường và phồn vinh.
18/6/2025
Nguyễn Duy Xuân
Đăng Tạp chqí Nhà báo & Cuộc sống, số tháng 9/2025.