Danh xưng “nhà văn” và sự tồn tại của văn chương trong tác phẩm không phải lúc nào cũng là một
admin100
2026-09-03T05:01:00+07:00
2026-09-03T05:01:00+07:00
http://nguyenduyxuan.net/tac-pham-cua-ban/danh-xung-nha-van-va-su-ton-tai-cua-van-chuong-trong-tac-pham-khong-phai-luc-nao-cung-la-mot-12961.html
http://nguyenduyxuan.net/uploads/news/2016_09/vo-cam.jpg
Nguyễn Duy Xuân
http://nguyenduyxuan.net/uploads/logotrong1.png
Thứ năm - 03/09/2026 05:01
Chiếc thẻ hội viên chứng minh anh thuộc về một tổ chức; nó không chứng minh câu thơ của anh hay. Một giải thưởng chứng minh một hội đồng đã lựa chọn tác phẩm ở một thời điểm; nó không buộc thời gian phải đồng ý. Và danh xưng “nhà văn” có thể được đặt trước tên một người khá dễ dàng; nhưng văn chương phải nằm phía sau tên người ấy, trong những trang họ đã viết.
Có một chuyện tưởng rất đơn giản mà nghĩ kỹ lại thấy chẳng đơn giản chút nào: thế nào là một nhà văn? Một người đã xuất bản vài cuốn sách là nhà văn; một người được kết nạp Hội Nhà văn là nhà văn; một người đoạt giải thưởng văn học là nhà văn; hay chỉ cần sống bằng nghề viết, có tên trên bìa sách và được báo chí đặt hai chữ “nhà văn” phía trước tên mình là đủ? Tất cả những điều ấy có thể đúng theo một nghĩa nào đó. Nhưng vẫn còn một câu hỏi khó chịu hơn nhiều: trong những trang người ấy viết có văn chương không? Bởi danh xưng “nhà văn” và sự tồn tại của văn chương trong tác phẩm không phải lúc nào cũng là một.
Tôi nghĩ đây mới là chuyện đáng bàn trong đời sống văn học hôm nay; không phải để lập một phiên tòa xem ai xứng đáng được gọi là nhà văn, càng không phải cầm cái thước của mình đi đo rồi tước danh xưng của người khác. Văn chương làm gì có cái máy nào để đặt một cuốn sách vào, bấm nút, rồi bên trái hiện “nhà văn”, bên phải hiện “không phải nhà văn”. Nhưng chính vì không có chiếc máy ấy nên càng phải phân biệt một điều khá căn bản: tư cách thành viên của một tổ chức nghề nghiệp và giá trị văn chương trong tác phẩm là hai chuyện khác nhau. Hội Nhà văn có thể kết nạp một người làm hội viên; nhà xuất bản có thể in sách của người ấy; hội đồng có thể trao một giải thưởng; báo chí có thể gọi người ấy là nhà văn. Những việc đó đều có tiêu chuẩn, quy trình và ý nghĩa của nó. Nhưng không một chiếc thẻ hội viên nào có thể chui vào trang sách để viết hộ một câu văn hay; không một quyết định kết nạp nào làm cho một nhân vật đang phẳng bỗng trở thành con người sống động; cũng không một tấm bằng khen nào cứu nổi một bài thơ nếu trong đó không có thơ.
Nghe có vẻ nghiệt, nhưng văn chương vốn nghiệt như thế. Một bác sĩ được xác định bằng bằng cấp và giấy phép hành nghề; một kỹ sư có hệ thống đào tạo và những chuẩn nghề nghiệp tương đối rõ; riêng nhà văn thì kỳ lạ hơn. Người ta có thể công nhận anh là hội viên vào một buổi sáng, nhưng chẳng ai có thể ký một quyết định rằng kể từ tám giờ sáng hôm ấy anh bắt đầu có tài. Tài năng không làm việc theo giờ hành chính; văn chương càng không. Có người viết cả đời, sách xếp kín một ngăn tủ nhưng thời gian chẳng giữ lại bao nhiêu; có người viết rất ít, thậm chí chỉ vài tác phẩm, mà một nhân vật của họ sống lâu hơn rất nhiều con người bằng xương bằng thịt. Số lượng sách vì thế không đồng nghĩa với lượng văn chương; cũng như số trang không đo được chiều sâu của một tác phẩm.
Nhưng nếu văn chương không nằm trong danh xưng thì nó nằm ở đâu? Câu hỏi ấy khó hơn nhiều. Nó chắc chắn không chỉ nằm ở chuyện viết cho “hay”; một câu chữ bóng bẩy chưa chắc là văn chương, một câu tưởng như thô mộc đôi khi lại mang sức nặng của cả một đời sống. Văn chương cũng không phải cứ viết về những đề tài lớn. Chiến tranh là một đề tài lớn nhưng một cuốn sách viết về chiến tranh vẫn có thể rất nhỏ; một bữa cơm gia đình là chuyện rất nhỏ nhưng dưới tay một nhà văn lớn có thể mở ra cả một thân phận người. Vấn đề không chỉ là viết về cái gì, mà còn là nhìn thấy gì trong cái mình viết.
Viết một trận đánh mà chỉ có tiếng súng, đội hình, bên thắng bên thua thì có thể tái hiện được một sự kiện, nhưng chưa chắc đã thành văn chương. Văn chương bắt đầu khi giữa tiếng súng ấy xuất hiện một con người; biết sợ, biết nhớ mẹ, biết yêu, biết hận, biết do dự, biết đau trước cái chết của đồng đội, có khi còn có những phút yếu đuối mà một bản báo cáo chiến trận chẳng cần ghi. Nhưng cũng đừng từ đó đi sang cực đoan ngược lại, tưởng rằng cứ viết người lính yếu đuối, chiến tranh đen tối, con người tha hóa thì mặc nhiên sâu sắc. Không. Bóng tối không phải giấy chứng nhận tài năng; bi kịch không tự động sinh ra văn chương; tình dục không mặc nhiên là giải phóng; sự bí hiểm cũng chẳng phải hộ chiếu của cách tân. Một câu thơ không trở thành thơ chỉ vì người đọc không hiểu nó; cũng như mấy câu có vần chưa chắc đã là thơ.
Văn chương khó hơn thế rất nhiều. Nó cần tư tưởng nhưng rất sợ khẩu hiệu; cần cảm xúc nhưng rất sợ sự ủy mị; cần sự thật nhưng không phải bản sao chụp của đời sống; cần hư cấu nhưng không phải tùy tiện; cần ngôn ngữ nhưng chữ nghĩa càng phô trương đôi khi văn chương càng lùi đi. Và cuối cùng, dù đi bằng hiện thực, huyền ảo, tượng trưng, cổ điển hay hiện đại, nó vẫn phải tìm đến một nơi: con người. Tôi không nghĩ văn chương đồng nghĩa với con người theo một công thức giản đơn; nhưng tôi tin rằng nếu rút con người ra khỏi văn chương thì phần còn lại rất dễ chỉ là kỹ thuật của chữ. Bởi ngay cả khi nhà văn viết về một con chó, một cánh đồng, một dòng sông, một khu rừng hay một hành tinh xa xôi, phía sau tất cả vẫn là đôi mắt con người đang nhìn thế giới. Nguyễn Du viết một người đàn bà tài sắc nhưng cuối cùng vẫn chạm đến những đau đớn của kiếp người; Nam Cao viết Chí Phèo nhưng đâu chỉ kể chuyện một anh say rượu rạch mặt ăn vạ; Vũ Trọng Phụng phơi ra những điều nhơ nhớp nhưng không phải để người đọc khoái trá trước sự nhơ nhớp. Đằng sau tất cả vẫn là một câu hỏi rất cũ mà hình như nhân loại chưa bao giờ trả lời xong: con người bị đời sống làm thành cái gì, và trong hoàn cảnh ấy còn giữ được bao nhiêu phần người?
Có lẽ đó là lý do những tác phẩm lớn sống lâu hơn hoàn cảnh đã sinh ra chúng. Hoàn cảnh thay đổi; xã hội thay đổi; ngôn ngữ thay đổi; người đọc thay đổi; nhưng con người vẫn yêu, vẫn mất, vẫn tham vọng, vẫn phản bội, vẫn sợ chết, vẫn cô độc và vẫn khao khát được một người khác hiểu mình. Văn chương chạm tới phần ấy thì nó có cơ hội đi xa.
Nghĩ đến đây lại thấy hai chữ “nhà văn” thật thú vị. Vậy ai công nhận một người là nhà văn? Hội Nhà văn ư? Tôi nghĩ Hội Nhà văn có thể công nhận một người là hội viên Hội Nhà văn. Hai chữ ấy hoàn toàn đáng trân trọng, nhưng không nên đánh đồng với một phán quyết cuối cùng về giá trị văn chương. Nhà xuất bản có thể quyết định xuất bản một cuốn sách; hội đồng giải thưởng có thể trao giải; một trường đại học có thể nghiên cứu tác phẩm; truyền thông có thể làm một cái tên trở nên nổi tiếng. Nhưng cuối cùng vẫn còn một hội đồng khác rất kỳ quặc; không có chủ tịch, không có thư ký, không có nhiệm kỳ và chẳng bao giờ họp. Đó là người đọc và thời gian.
Hội đồng ấy làm việc chậm kinh khủng; có khi năm mươi năm, có khi một trăm năm. Nó chẳng gửi thông báo kết quả cho tác giả; đến khi kết quả tương đối rõ thì nhiều khi người viết đã nằm dưới đất từ lâu. Nhưng xem ra đó lại là hội đồng khó vận động nhất. Bởi vậy tôi không mấy quan tâm đến những con số kiểu năm mươi phần trăm hay chín mươi phần trăm hội viên “không phải nhà văn”. Nếu không có một khảo sát và hệ tiêu chí đủ căn cứ thì những tỷ lệ ấy nên được hiểu như một cách nói thể hiện sự thất vọng hơn là một kết luận có thể kiểm chứng. Và thật ra cũng chẳng cần những con số gây sốc ấy mới thấy được vấn đề. Chỉ cần tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa danh xưng nghề nghiệp và năng lực sáng tạo, một tổ chức văn học đã có lý do để tự hỏi mình: tiêu chuẩn kết nạp đang coi trọng điều gì; số lượng đầu sách, giải thưởng, thâm niên, hay thực sự là chất lượng sáng tác và triển vọng của một người viết?
Một người viết đủ vài cuốn sách rồi vào Hội, sau đó ít viết hoặc không viết nữa, chưa chắc vì thế mà chưa từng là nhà văn; có thể những gì họ đã viết thực sự có giá trị. Ngược lại, xuất bản vài chục cuốn cũng không bảo đảm sẽ có một cuốn được thời gian giữ lại. Cho nên câu chuyện không nằm ở bao nhiêu cuốn; nó nằm ở trong những cuốn ấy có gì.
Và đây mới là chỗ khiến tôi suy nghĩ. Một nền văn học không đáng sợ vì có nhiều người viết dở; văn học nào, thời đại nào chẳng có người viết dở. Người viết dở hôm nay có thể viết hay ngày mai; người từng viết hay cũng hoàn toàn có thể viết dở. Sáng tạo vốn chẳng phải một con đường thẳng. Điều đáng lo hơn là khi những chuẩn mực về văn chương trở nên mơ hồ đến mức người có trách nhiệm xác lập hoặc bảo vệ chuẩn mực cũng không còn phân biệt được giá trị văn học với những giá trị khác. Một tác phẩm mang một thông điệp xã hội tích cực chưa chắc đã là tác phẩm văn chương hay; một tác phẩm có tư tưởng nhân văn chưa chắc đã có nghệ thuật; một tác phẩm cách tân hình thức chưa chắc đã có chiều sâu; một tác phẩm được dư luận chú ý chưa chắc có giá trị lâu dài; một tác phẩm được giải thưởng cũng không vì thế mà chấm dứt quyền phê bình của người đọc.
Nếu không phân biệt được những tầng giá trị ấy, vấn đề không còn nằm ở một người viết dở. Nó bắt đầu liên quan đến kết nạp hội viên, xét giải thưởng, tổ chức phê bình, lựa chọn tác phẩm tiêu biểu, tạo dựng tên tuổi và cuối cùng là hình thành một hệ giá trị văn học. Đến lúc ấy câu chuyện đã lớn hơn một vài người viết rất nhiều.
Tôi chợt nhớ câu nói dân dã của Sơn Nam: “như lấy rổ múc nước.” Cái rổ không có tội; nước cũng chẳng có tội. Chỉ buồn cười nếu người cầm rổ đi một quãng đường rất xa, đến nơi nhìn xuống thấy chẳng còn giọt nước nào mà vẫn long trọng tuyên bố mình vừa mang về một mùa sông. Văn chương cũng vậy. Danh xưng cần cho đời sống xã hội; hội viên cần cho một tổ chức; giải thưởng cần để ghi nhận và khích lệ; chức danh cần để vận hành bộ máy. Không việc nào đáng bị giễu cợt. Chỉ cần biết mỗi thứ có quyền lực đến đâu. Chiếc thẻ hội viên chứng minh anh thuộc về một tổ chức; nó không chứng minh câu thơ của anh hay. Một giải thưởng chứng minh một hội đồng đã lựa chọn tác phẩm ở một thời điểm; nó không buộc thời gian phải đồng ý. Và danh xưng “nhà văn” có thể được đặt trước tên một người khá dễ dàng; nhưng văn chương phải nằm phía sau tên người ấy, trong những trang họ đã viết.
Nghĩ vậy, tôi lại thấy câu hỏi “ai là nhà văn?” có khi không quan trọng bằng một câu hỏi giản dị hơn: anh đã viết được gì? Cũng không cần trả lời ngay. Cứ để sách ở lại; cứ để người đọc đọc; cứ để thời gian làm phần việc của thời gian. Rồi một ngày nào đó, tất cả những người đang tranh luận hôm nay đều không còn ở đây để phân xử xem ai xứng đáng với hai chữ “nhà văn”. Những chiếc thẻ cũ đi, giải thưởng phủ bụi, chức danh thành một dòng trong tiểu sử; thậm chí tên người viết có thể mờ dần. Nhưng nếu ở một nơi nào đó vẫn còn một người mở cuốn sách cũ, đọc một trang và bỗng nhận ra trong đó nỗi đau, niềm vui, sự cô độc hay một phần đời sống của chính mình, thì tác giả của trang sách ấy chẳng cần xuất trình thêm bất kỳ giấy tờ nào nữa.
Bởi đến lúc ấy, không phải Hội, không phải giải thưởng, cũng chẳng phải người viết tự nhận mình là ai.
Văn chương đã nhận ra nhà văn của nó.
Nguyễn Quốc Chính
Theo FB tác giả: https://www.facebook.com/profile.php?id=61585880695168
Tags:
giải thưởng,
tổ chức,
có thể,
thời gian,
chứng minh,
nhà văn,
hội đồng,
tác phẩm,
hội viên,
đồng ý,
thời điểm,
văn chương,
dễ dàng
Theo dòng sự kiện
Xem tiếp...
Những tin cũ hơn